search
Chào mừng bạn đến với Lớp 6/7 Hỏi Đáp, nơi bạn có thể đặt câu hỏi về các vấn đề trong học tập hoặc đời sống có liên quan và đồng thời tham gia trả lời nhanh chóng và dễ dàng. Hãy tham gia ngay vì chúng mình đang có nhiều sự kiện hấp dẫn và những phần quà siêu to khổng lồ chờ bạn đó!
Tham gia Master of Riddles kì 1
Chào mừng bạn đã đến với Lớp 6/7 Hỏi Đáp - Cộng đồng tự học thông qua hỏi bài và nhận câu trả lời từ lớp 1 đến lớp 12 nhanh chóng trong chưa đầy vài phút!

Bắt đầu đặt câu hỏi tại đây: Đặt câu hỏi

Bạn cũng có thể tạo tài khoản để thi đua cùng bạn bè: Đăng ký

Bảng xếp hạng điểm học tập: Bảng xếp hạng

Quy định chung trên Lớp 6/7 Hỏi Đáp: Quy định

Phần thưởng hằng tháng: Chi tiết

Lưu ý: Bạn PHẢI đọc quy định trước khi tham gia, tuyệt đối không đăng câu hỏi/trả lời linh tinh không liên quan đến học tập; Spam; Gian luận điểm dưới mọi hình thức;...


  1. Binh-dep-zai-gioi-ly-hoa-hoc-truong-chuyen-KHTN-so-thich-ngam-tan-gai-la-mot-dan-chs-Vinahouse-mua-quat-bat-chap-thoi-tiet-hom-nay-the-nao-bat-chap-Manh-cau-hay-vui-hay-mat-dien-ko-online-BFF-lovell-tu-phong

    5310 Điểm

  2. Lovell

    4945 Điểm

  3. GENOS

    4521 Điểm

  4. Niii_cutee

    3398 Điểm

Phần thưởng hàng tháng: (Chính sách thưởng mới!)
Hạng 1: 200.000đ
Hạng 2: 100.000đ
Hạng 3: 50.000đ
Hạng 4-10: 20.000đ

1 thích
31 lượt xem 1 3
Phân tích đoạn 2 bài thơ "Vội vàng" của Xuân Diệu. 
trong Ngữ văn lớp 11 nhthuyvy16 Học sinh 457 điểm 2 17
Đã chọn lại chủ đề bởi nhthuyvy16
Lớp 6/7 Hỏi Đáp hữu ích với bạn? Hãy bấm thích nhé
Cuộc thi đang diễn ra Tham gia Master of Riddles kì 1

3 Trả lời

0 phiếu
 
Hay nhất
0

Thơ Mới (1932-1945) là thời kì giải phóng cái tôi, để quan niệm phi ngã trong văn chương trung đại không còn là chiếc cũi giam chật hẹp gò ép người nghệ sĩ, ở thời kì này người nghệ sĩ như cánh chim được tự do tung bay, tháo túi sổ lồng. Trong số ấy, Xuân Diệu với bộ y phục tối tân của mình đã trở thành đại biểu tiêu biểu nhất, là nhà thơ mới nhất trong các nhà Thơ Mới. Nếu cần tìm một bài thơ bộc lộ rõ nhất về phong cách nghệ thuật của Xuân Diệu thì đó chỉ có thể là “Vội vàng”- một thi phẩm tuyệt bút đón chào ta bằng cảm xúc vồ vập, những cung bậc rạo rực với cuộc đời của tuổi trẻ. Đặc biệt là đoạn thơ giữa nói lên cảm nhận độc đáo của thi sĩ về thời gian, thúc đẩy con người ta phải sống vội vàng hơn:

“Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua,

Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già,

Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất.

Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật,

Không cho dài thời trẻ của nhân gian,

Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn,

Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại!

Còn trời đất, nhưng chẳng còn tôi mãi,

Nên bang khuâng tôi tiếc cả đất trời;

Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi,

Khắp song núi vẫn than thầm tiễn biệt…

Con gió xinh thì thào trong lá biếc,

Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi?

Chim rộn rang bỗng đứt tiếng reo thi,

Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa?

Chẳng bao giờ, ôi ! Chẳng bao giờ nữa…”

Nếu như phần đầu tiên của bài thơ là ước muốn táo bạo cùng vẻ đẹp độc đáo của mùa xuân thì sang phần thơ thứ hai, nhà thơ đã giải thích rõ lí do phải sống vội vàng:

“Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua,

Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già,

Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất.”

Đến đây ta không khỏi thắc mắc tại sao Xuân Diệu lại vội vàng tiếc nuối mùa xuân ngay khi xuân còn đang thắm? Chắc có lẽ thi sĩ đang mang trong mình một cách nhìn nhận rất nhạy cảm về thời gian. Trong hiện tại đã bắt đầu có quá khứ và đã hé lộ mầm tương lai, cái đang có lại đang mất dần đi. Xuân Diệu quan niệm thời gian, mùa xuân, tuổi trẻ một đi sẽ không trở lại thế nên ông luôn trong tâm thế hốt hoảng, lo âu khi thời gian âm thầm đếm bước. Điều đó được thể hiện rõ qua lối điệp cấu trúc “nghĩa là” ở từng câu thơ, cho ta thấy rằng thi nhân rất nhạy cảm trước sự trôi qua nhanh chóng của tuổi trẻ. Một hệ thống tương phản đối lập: tới/qua, non/già,… càng ngầm khẳng định một triết lí: ý nghĩa lớn nhất của đời người là tuổi trẻ, mất đi rồi cuộc đời như đặt dấu chấm hết. Xuân Diệu đối diện với sự thật hiển nhiên mà phũ phàng ấy bằng liên tiếp các dấu phẩy được huy động tạo nên âm điệu thơ ngậm ngùi, nghẹn ngào. Sau khi có những nhận thức mới lạ về thời gian, nhà thơ đã có những câu thơ trách hờn với tạo hóa:

“Lòng tôi rộng mà lượng trời cứ chật,

Không cho dài thời trẻ của nhân gian,

Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn,

Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại !”

Xuân Diệu đã rất khéo léo khi sử dụng tương phản đối lập giữa “lòng tôi rộng” với “lượng trời cứ chật” để ngầm trách tạo hóa ban cho thời gian xuân thì tuổi trẻ quá ngắn ngủi dù lòng người vẫn hừng hực sức sống. Xuân Diệu đã chủ động đối thoại, tranh luận bác bỏ ý nghĩ cố hữu của mọi người là mùa xuân vẫn tuần hoàn. Với thi sĩ, tuổi trẻ sẽ không thắm lại nên cũng không thể nói mùa xuân là tuần hoàn. Đến đây ta chợt bắt gặp sự đồng điệu trong tâm hồn giữa Xuân Diệu và Nguyễn Trãi qua bài thơ số 3 trong chùm “Thơ tiếc cảnh”:

“Xuân xanh chưa dễ hai phen lại,

Thấy cảnh càng thêm tiếc thiếu niên”.

Giống như Xuân Diệu , Nguyễn Trãi cũng tiếc nuối thời trai trẻ qua đi không thể với níu lại được. Vũ trụ có thể tồn tại vĩnh viễn, thời gian có thể tuần hoàn nhưng dẫu sao “tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại”, bởi lẽ tuổi trẻ tựa bản giao hưởng đẹp nhất trong đời mỗi người, đẹp đến nỗi không thể hòa tấu lại lần thứ hai. Và đó là lí do khiến Xuân Diệu không chỉ trách hờn tạo hóa mà còn ghen tị với tạo hóa, nỗi buồn mỗi lúc mỗi bất lực hơn:

“Còn trời đất, nhưng chẳng còn tôi mãi,

Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời;”

nhthuyvy16 Học sinh 457 điểm 2 17
được bầu chọn là câu hỏi hay nhất bởi Binh-mango-lay-tk-teemo
0 phiếu
0

Đúng vậy, giữa cái mênh mông của trời đất, vô tận của thời gian, tuổi trẻ, sự sống của con người bỗng hóa mong manh như bóng cau qua cửa sổ, như cái chớp mắt tức thì. Ta mãi mãi không thể biến cái vô hạn của không gian thành cái vô hạn của riêng mình. Suy ngẫm về điều đó, day dứt về điều đó, Xuân Diệu đã đem đến một nỗi ngậm ngùi mà mới mẻ trong thơ ca Việt. “Với quan niệm một đi không trở lại và bằng tâm hồn rất đỗi nhạy cảm tới mức có thể nghe thấu cả sự mơ hầu” (Thế Lữ), Xuân Diệu thấm thía sự phôi pha, phai tàn đang âm thầm diễn ra trong lòng vũ trụ trên cả hai trục không gian và thời gian. Trên nền trời bao la, những âm bản của bức tranh vườn địa đàng đầy hình ảnh, đầy âm nhạc lại càng xoáy sâu vào nỗi buồn thi sĩ:

“Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi,

Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt…

Con gió xinh thì thào trong lá biếc,

Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi ?

Chim rộn rang bỗng đứt tiếng reo thi,

Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa ?”

Không còn vị nồng nàn, ngọt ngào của hạnh phúc mà là vị chia phôi, rướm máu. Đã chia phôi chúng ta lại gặp tiếp hai tiếng “tiễn biệt”. Thời gian vốn vô hình, vô ảnh, không mùi, không vị nhưng đi vào thơ Xuân Diệu bỗng có mùi, có vị chia phôi chua xót. Dường như cả khu vườn náo nức, hạnh phúc ngày nào giờ chỉ còn là ảo ảnh. Vẫn là chim, là gió nhưng các từ nhân hóa “hờn”, “sợ” đã cho thấy tất cả không còn náo nức, nhộn nhịp. Gió đùa trong lá không còn những âm thanh vui tươi, sống động của thiên nhiên vì “hờn” tủi trước sự trôi chảy của thời gian. Chim hót những bản nhạc chào xuân rộn ràng bỗng ngừng bặt, chẳng có mối nguy hiểm hiểm nào cả, chỉ vì chúng “sợ” độ tàn phai, héo úa. Vạn vật đều không thể cưỡng lại quy luật tàn phai nghiệt ngã của tạo hóa mà “hờn” mà “sợ”. Phép điệp cấu trúc “phải chăng” cùng câu hỏi tu từ xuất hiện liên tiếp càng làm nổi bật cái nghịch lí giữa mùa xuân, tuổi trẻ và thời gian. Tất cả khiến thi sĩ phải cất lên lời than tha thiết, tiếc nuối, lo lắng:

“Chẳng bao giờ, ôi ! Chẳng bao giờ nữa…

Mau đi thôi mùa chưa ngả chiều hôm”

Đến đây, thi nhân đã vỡ lẽ chẳng bao giờ có thể “tắt nắng”, “buộc gió”, níu giữ mãi tuổi trẻ mùa xuân ở lại. Khát vọng cháy bỏng, ước muốn táo bạo đã tan thành mấy khó, chỉ còn lại nỗi bẽ bàng, thảng thốt còn in dấu trong dấu chấm cảm giữa dòng thơ và dấu chấm lửng cuối dòng thơ. Nỗi đau đớn của Xuân Diệu phải sâu sắc lắm, thấm thía lắm thì mới bộc phát thành tiếng than kêu thống thiết như vậy. Câu phủ định và câu cảm thán đã làm cho câu thơ thêm phần tha thiết hơn. Thời gian cứ mênh mông nhưng mùa xuân và tuổi trẻ con người cứ ngắn ngủi bởi thế chỉ còn một cách là phải sống vội vàng, phải “mau đi thôi”. Trong kẽ hở của thời gian và hiện thực, tuổi trẻ mỏng manh như trang giấy bị gió hong khô. Vì vậy, ta hãy sống hết mình với tuổi trẻ để mỗi khoảnh khắc qua đi không mang theo một điều hối tiếc. 

Khép lại dòng cảm xúc dào dạt của thi nhân, ta vẫn còn vương vấn thoang thoảng nét buồn đượm lên trên vần thơ. Ngòi bút điêu luyện của Xuân Diệu là sự kết tinh của bút pháp tinh tế, của sự kết hợp giữa mạch cảm xúc và mạch luận lí, những sáng tạo độc đáo về ngôn từ và hình ảnh thơ, những phép đối cùng những câu hỏi tu từ khiến người đọc day dứt khôn nguôi về tháng năm tuổi trẻ đang dần phai nhạt. Chỉ vọn vẻn vài dòng thơ, thi nhân đem tới cho người đọc một tư tưởng rất nhân văn, sống vội vàng không có nghĩa là sống gấp, sống ích kỉ trong hưởng thụ mà là sống biết quý trọng thời gian, trân quý tuổi trẻ. 

“Vội vàng” xứng đáng là một tuyệt phẩm đưa Xuân Diệu vào hàng tiêu biểu trong lớp thế hệ nhà Thơ Mới. “Sự ý thức sâu xa về sự sống của cá thể” một cách đầy mới mẻ của Xuân Diệu đã khiến cho ta thêm phần trân trọng từng phút giây của cuộc đời, tận hưởng một cuộc sống trọn vẹn và đầy ý nghĩa. Chính ý nghĩa sâu sắc ấy đã giúp “Vội vàng” tồn tại như một giá trị vĩnh cữu giữa phong ba bão táp khắt khe của thời gian và làm ta cảm thấy như Xuân Diệu vẫn đang còn hiện diện giữa cuộc đời đầy tươi mới dù đã đi vào thế giới vĩnh hằng. Hơn hết, bài thơ đã thắp lên ngón lửa cảm hứng dạt dào về khát vọng sống hết mình với cuộc đời cho lớp thế hệ trẻ như tôi với triết lí: “Sống không có tuổi trẻ như ngày mới không có bình minh”.  

nhthuyvy16 Học sinh 457 điểm 2 17
0 phiếu
0

Vội vàng yêu, vội vàng sống, vội vàng tận hưởng từng giây từng phút với niềm khát khao được hòa mình trọn vẹn vào đất trời bao la. Đó là tâm trạng của nhà thơ Xuân Diệu khi viết lên tác phẩm “Vội vàng”. Ông đã sung sướng khi phát hiện ra điều kỳ diệu ở ngay những gì gần gũi nhất, giản đơn nhất. Một cánh bướm nhỏ, một nhành cây non… cũng đủ cho nhà thơ đắm mình thưởng thức. Nhưng rồi, ông chợt nhận ra:

Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua

Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già,

Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất.

Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật

Không cho dài thời trẻ của nhân gian

Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn

Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại!

Còn trời đất, nhưng chẳng còn tôi mãi,

Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời;

Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi,

Khắp núi sông vẫn than thầm tiễn biệt…

Con gió xinh thì thào trong lá biếc,

Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi?

Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi,

Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa?

Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ nữa…

Xuân Diệu nhận ra bi kịch thảm thiết của cuộc đời, rằng Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua. Từ xưa tới nay, đó vẫn luôn là sự thật hiển nhiên, là do tạo hóa xoay vần. Mọi người ai cũng biết điều đó, nhưng chỉ có mình Xuân Diệu cảm thấy đớn đau trước vòng tuần hoàn nghiệt ngã ấy. Xuân tới rồi, ong bướm, hoa cỏ, yến anh… đang đầy ắp sự sống tràn trề trước mắt thi nhân, nhưng ông chẳng kịp tận hưởng hết đã vội lo chúng sẽ dần tàn lụi theo thời gian. Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già. Đúng vậy, thời gian trôi đi, mọi thứ cũng sẽ trôi theo. Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất. Xuân qua đi rồi xuân lại đến, nhưng khi mùa xuân của đời người chấm hết đồng nghĩa với việc đời người cũng không còn.

Xuân Diệu đã nhận thức rất rõ vòng tuần hoàn của mùa xuân và sự luân chuyển của tạo hóa. Ông đau đớn, day dứt nhưng không phải vì thế mà ông chìm đắm trong nỗi đau, mà ngay lúc này đây, ông muốn dang rộng đôi tay mình ôm trọn cả thế giới bao la. Nhưng tiếc rằng lượng trời cứ chật, Không cho dài thời trẻ của nhân gian. Giữa đất trời tự nhiên, ông vẫn chỉ là một con người nhỏ bé với mùa xuân chỉ đến có một lần. Dù cho ngoài kia xuân vẫn tuần hoàn nhưng điều đó có ý nghĩa gì đâu khi tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại!. Dấu chấm than đặt cuối câu như một lời cảm thán đau đớn vô cùng thể hiện sự bất lực của nhà thơ khi đứng trước vòng tuần hoàn của thiên nhiên.

 

 

Ông muốn gắn mùa xuân của đời mình với mùa xuân của tạo hóa, muốn mình luôn được trẻ mãi, xuân mãi để tận hưởng những gì tinh túy nhất, giản đơn đơn nhất và thanh cao nhất. Người ta thường vội vàng sống để làm việc, để kiếm tiền, còn Xuân Diệu lại khác. Ông vội vàng vì sợ rằng mình chưa kịp hưởng hết những tinh hoa của đất trời trước khi nó tàn úa mất theo thời gian. Lòng ông đau xót khi nhận ra sự thật đắng cay:

Còn đất trời nhưng chẳng còn tôi mãi,

Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời;

Câu thơ mỗi lúc một day dứt hơn, thiết tha hơn. Từng câu, từng chữ cất lên như tiếng nấc lòng của thi nhân. Và rồi, nỗi đau ấy lan tỏa ra những thứ xung quanh:

Con gió xinh thì thào trong lá viếc,

Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi?

Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi

Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa?

Mọi thứ đang vận động rất vui tươi với sự sống tràn trề nhưng khi gặp phải tâm trạng đau khổ của nhà thơ đều đột ngột biến đổi trạng thái. Con gió xinh hờn vì nỗi phải bay đi, Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi. Và tất cả đều chung trạng thái sợ độ phai tàn sắp sửa.Thực ra, chúng chỉ là thứ vô tri vô giác, hoạt động thuận theo tự nhiên nhưng khi được nhìn nhận dưới đôi mắt của một người đang khát khao sống, khát khao yêu và bàng hoàng nhận ra mọi thứ sẽ tàn phai theo năm tháng, tất cả những thứ vô tri vô giác ấy đều trở nên có hồn và cùng chung nỗi sợ với con người.

Và cuối cùng, Xuân Diệu thốt lên rằng:

Chẳng bao giờ nữa, ôi! Chẳng bao giờ nữa…

Dấu ba chấm bỏ lửng cuối dòng nhường chỗ cho biết bao nhiêu suy tư, bao nhiêu nỗi niềm lo lắng bị bỏ lại. Thời gian chẳng bao giờ có thể quay trở lại được. Và tất nhiên những năm tháng của tuổi xuân cũng chẳng bao giờ thắm lại lần thứ hai. Thế nên, cuộc đời Xuân Diệu cũng như bao nhiêu cuộc đời khác, sẽ tàn phai dần theo năm tháng.

 

Cuộc sống hiện tại còn đó, nhưng lòng ông luôn ngập ngừng nghĩ đến ngày mai. Ông vội vàng, nhưng không phải vội vàng sống để lướt qua hết những điều giản đơn nhất bên cạnh mình. Mà ngược lại, ông vội vàng vì sợ rằng mình sẽ bị cuốn theo dòng đời, bỏ lỡ mất những tinh túy của tự nhiên. Quan niệm sống vội của ông rất trong sáng và đáng được noi theo trong cuộc sống hiện đại xô bồ này. Bằng giọng thơ khi dồn dập, khi day dứt với những câu cảm thán tràn đầy cảm xúc, Xuân Diệu đã truyền cảm hứng tới người đọc về nguồn cảm hứng sống và tận hưởng những điều giản đơn nhất, không để lãng phí bất kỳ một giây phút nào của cuộc đời vô giá.

Trần Nhật Dương Cử nhân 4.5k điểm 19 34 171

Các câu hỏi liên quan

2 phiếu
3 câu trả lời 59 lượt xem
59 lượt xem
Phân tích 2 khổ thơ cuối bài thơ "Tràng Giang" của Huy Cận. 
đã hỏi 17 tháng 8, 2019 trong Ngữ văn lớp 11 nhthuyvy16 Học sinh 457 điểm 2 17
1 thích
3 câu trả lời 48 lượt xem
48 lượt xem
Phân tích 2 khổ đầu bài thơ "Tràng Giang" của Huy Cận. 
đã hỏi 17 tháng 8, 2019 trong Ngữ văn lớp 11 nhthuyvy16 Học sinh 457 điểm 2 17
2 phiếu
4 câu trả lời 16 lượt xem
16 lượt xem
Phân tích bài thơ "Từ ấy" của Tố Hữu. 
đã hỏi 17 tháng 8, 2019 trong Ngữ văn lớp 11 nhthuyvy16 Học sinh 457 điểm 2 17
1 thích
3 câu trả lời 25 lượt xem
25 lượt xem
Phân tích 10 câu thơ cuối bài Vội Vàng
đã hỏi 16 tháng 6, 2019 trong Ngữ văn lớp 11 Xuhoa13 Cử nhân 3.4k điểm 8 14 41
1 thích
2 câu trả lời 16 lượt xem
16 lượt xem
Phân tích khổ một  (13 câu đầu) bài thơ "Vội Vàng"
đã hỏi 16 tháng 6, 2019 trong Ngữ văn lớp 11 Xuhoa13 Cử nhân 3.4k điểm 8 14 41
1 thích
3 câu trả lời 496 lượt xem
496 lượt xem
Phân tích bài thơ "Câu cá mùa thu" (Thu điếu) của Nguyễn Khuyến. 
đã hỏi 16 tháng 8, 2019 trong Ngữ văn lớp 11 nhthuyvy16 Học sinh 457 điểm 2 17
1 thích
3 câu trả lời 45 lượt xem
45 lượt xem
Phân tích 12 câu thơ đầu bài "Trao duyên" (Truyện Kiều) của Nguyễn Du. 
đã hỏi 16 tháng 8, 2019 trong Ngữ văn lớp 10 nhthuyvy16 Học sinh 457 điểm 2 17
2 phiếu
3 câu trả lời 50 lượt xem
50 lượt xem
Phân tích bài "Thương vợ" của Trần Tế Xương. 
đã hỏi 16 tháng 8, 2019 trong Ngữ văn lớp 11 nhthuyvy16 Học sinh 457 điểm 2 17
0 phiếu
2 câu trả lời 62 lượt xem
62 lượt xem
Phân tích 14 câu giữa đoạn trích "Trao duyên" của Nguyễn Du. 
đã hỏi 16 tháng 8, 2019 trong Ngữ văn lớp 10 nhthuyvy16 Học sinh 457 điểm 2 17
1 thích
2 câu trả lời 23 lượt xem
23 lượt xem
Phân tích đoạn một tác phẩm "Bình Ngô đại cáo" của Nguyễn Trãi. 
đã hỏi 16 tháng 8, 2019 trong Ngữ văn lớp 10 nhthuyvy16 Học sinh 457 điểm 2 17
2 phiếu
3 câu trả lời 762 lượt xem
762 lượt xem
Phân tích bài thơ Tự tình (II)
đã hỏi 4 tháng 7, 2019 trong Ngữ văn lớp 11 Xuhoa13 Cử nhân 3.4k điểm 8 14 41
2 phiếu
1 trả lời 250 lượt xem
250 lượt xem đã hỏi 1 tháng 5, 2018 trong Ngữ văn lớp 11 anhthh_823 Tiến sĩ 16k điểm 369 1087 1820
1 thích
3 câu trả lời 27 lượt xem
27 lượt xem
Phân tích 14 câu cuối bài "Chí khí anh hùng" của Nguyễn Du. 
đã hỏi 16 tháng 8, 2019 trong Ngữ văn lớp 10 nhthuyvy16 Học sinh 457 điểm 2 17
2 phiếu
3 câu trả lời 112 lượt xem
112 lượt xem
Phân tích bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người của nhân vật Chí Phèo trong truyện ngắn cùng tên của Nam Cao. 
đã hỏi 17 tháng 8, 2019 trong Ngữ văn lớp 11 nhthuyvy16 Học sinh 457 điểm 2 17
0 phiếu
3 câu trả lời 49 lượt xem
49 lượt xem
Phân tích bi kịch bị lưu manh hóa của nhân vật Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên của Nam Cao.
đã hỏi 16 tháng 8, 2019 trong Ngữ văn lớp 11 nhthuyvy16 Học sinh 457 điểm 2 17
Loading...
...