Ơn giời cập nhật xong rồi ! Đợt nâng cấp hệ thống đã hoàn tất, mời các bạn cùng trải nghiệm tốc độ truy cập nhanh và không nghẽn mạng!

0 phiếu
Phân tích 8 câu thơ cuối trong đoạn trích "Kiều ở lầu Ngưng bích"
trong Ngữ văn lớp 9 bởi Xuhoa13 Học sinh (37 điểm)

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký để trả lời câu hỏi này.

2 Trả lời

+1 thích

Nhà nghiên cứu Phạm Quỳnh từng khẳng định:

“Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn”

Còn với Chế Lan Viên, là sự sâu lắng và tinh tế khi cất lên lời thơ

“Nguyễn Du viết Kiều đất nước hoá thành văn”

Thời gian càng lùi xa, vẻ đẹp của Truyện Kiều càng hiện lên rực rỡ, tư tưởng của Nguyễn Du càng bộc lộc sự thâm thúy, sâu sắc, kể cả những điều mà mới đây ta từng coi là hạn chế. Đất nước văn hiến đã sinh ra Nguyễn Du và Truyện Kiều, Truyện Kiều đã làm cho đất nước càng thêm văn hiến. Bởi vậy bao thế kỉ qua, Truyện Kiều đã trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu với mỗi người dân Việt Nam. Những trang thơ như có sức cuốn hút diệu kì, vương vấn mãi tâm hồn ta, mang đến cho ta niềm cảm thương sâu sắc với “tấm gương oan khổ” Thúy Kiều, đem lại cho ta những khoái cảm thẩm mĩ đặc biệt trước những lời thơ như hoa, như gấm. Vậy mới thấy, thơ ca chỉ tìm được bến neo đậu nơi lòng người khi đó là tiếng lòng tha thiết, được tạo tác bởi tài năng nghệ thuật chân chính, tám câu thơ cuối trong đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” của Nguyễn Du đã làm được điều đó:

“Buồn trông cửa bể chiều hôm,

Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?

Buồn trông ngọn nước mới sa          

Hoa trôi man mác biết là về đâu?

Buồn trông nội cỏ rầu rầu

Chân mây mặt đất một màu xanh xanh

Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,

Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.”
Trong cảm thụ nghệ thuật, mọi việc khác không thể thay thế việc dùng trực cảm thâm nhập vào bản thân tác phẩm. Nhất là những tuyệt tác, bao giờ cũng có "mạng vi mạch" nối với tinh hoa tinh huyết của hồn thơ ấy. Qua đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích”, có thể thấy tương quan không gian như thể ở hai nơi chốn: thiên nhiên (ngoài kia) và ở trong lầu Ngưng bích hiện ra như một người đang ở đây, ở trong này mà khắc khoải ngóng trông hoài vọng về một nơi xa xăm, về ngoài kia. Đó là hình ảnh một cá thể nhỏ nhoi tha thiết với đời mà đang chới với, tuyệt vọng bên vùng trời quên lãng.

Bởi thế mà Mộng Liên Tưởng chủ nhân trong lời tựa Truyện Kiều đã viết: “Lời văn tả ra hình như có máu chảy ở đầu ngọn bút, nước mắt thấm ở trên tờ giấy, khiến ai đọc cũng phải thấm thìa, ngậm ngùi, day dứt đến đứt ruột”. Quả thật là như vậy, để diễn tả tâm trạng cô đơn buồn tủi, tuyệt vọng của Kiều, Nguyễn Du đã sử dụng bút pháp tả cảnh ngụ tình đặc sắc ”tình trong cảnh ấy cảnh trong tình này” là thực cảnh cũng là tâm cảnh. Mỗi cảnh gợi ra một nỗi buồn khác nhau, để rồi tình buồn tác động đến cảnh buồn khiến cảnh mỗi lúc lại buồn hơn, nỗi buồn càng trở nên ghê gớm mãnh liệt. Đúng như Nguyễn Du từng viết:

” Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu,

Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”

Những dòng thơ sinh động, dưới cái tài miêu tả nội dung nhân vật của tác giả làm hiện lên một bức tranh vừa gợi tả cảnh thiên nhiên vừa gợi nỗi lòng của nàng Kiều. Một mình bơ vơ, trơ trọi giữa không gian mênh mông, bỗng trào lên da diết nỗi nhớ nhà, nhớ quê hương được hoàn chỉnh bằng những dòng thơ lục bát tinh tế, sắc sảo đã bao năm tháng mà vẫn làm say đắm lòng người qua gồm bốn cặp câu lục bát cũng là bốn cảnh và cặp câu được liên kết nhờ điệp ngữ "buồn trông".
Bởi thế, "Buồn trông" trở thành điệp khúc của đoạn thơ cũng như điệp khúc của tâm trạng. Bằng một gam màu nhạt và lạnh, Nguyễn Du đã vẽ lên một bộ tứ bình tâm trạng hết sức độc đáo và xúc động.

” Buồn trông cửa bể chiều hôm

Thuyền ai thấp thoáng, cánh buồm xa xa”

Không gian xa rộng, quạnh hiu nơi cửa bể như càng làm nổi rõ hơn thân phận nhỏ bé, cô đơn của Kiều. Cửa bể là nơi biển khơi mênh mang, rợn ngợp vô cùng. Không gian ấy cộng hưởng cùng thời gian “chiều hôm” - thời khắc gợi nhớ, gợi buồn - khiến như thấm sâu hơn vào tâm hồn người con gái nơi xứ lạ nỗi niềm xót xa đang rơi vào trạng thái lạc loài không có điểm bám víu.. Giữa khung cảnh ấy, trái tim cô đơn, tâm hồn trống vắng cần lắm một hơi ấm, một sự hiện diện của sự sống:

“Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa”

Trong thơ, cảnh chiều hôm giữa không gian bao la ấy có một cánh buồm lẻ loi, lạc lõng lúc ẩn lúc hiện ”thấp thoáng”  đã gợi lên cho ta sự lưu lạc tha hương cùng với nỗi buồn da diết về cha mẹ của đứa con nơi ”đất khách quê người”. Cửa bể chiều hôm vốn mênh mông hoang vắng, cánh buồm thấp thoáng đi về chốn xa xôi, bao giờ cũng buồn, càng gợi buồn hơn trong cảnh hiu quạnh này. Giữa sự hiện hữu mờ mờ, như có như không, được diễn tả qua hai từ láy “thấp thoáng”, “xa xa” của cánh buồm không làm cho khung cảnh thêm thân mật, ấm áp mà càng gợi sầu, gợi cảm giác cô liêu cho con người.

Câu thơ từ từ ngân lên như một niềm khao khát, hoài bão, ngóng trông, nhưng hiện tại, nơi gác bể chân trời, Kiều vẫn lẻ loi một mình đối đầu với sóng gió cuộc đời, rồi thân phận kiều sẽ lênh đênh, trôi dạt về phương trời nào? Không tìm thấy sự sẻ chia từ nơi cửa biển xa xăm, Kiều hướng tầm mắt về “ngọn nước” gần mình hơn

“Buồn trông ngọn nước mới sa

Hoa trôi man mác biết là về đâu?”

Thuyền trôi trong vô định, giờ hoa cũng trôi trong vô định, “biết là về đâu”. Có gì như thân Kiều một mình lạc lõng trong mờ mịt chân mây. Đâu là quê nhà? Chẳng ai là thân nhân. Giữa dòng nước, cánh hoa trôi man mác như gợi nhắc thân phận cảnh bèo trôi dạt của người trong cảnh. Hình ảnh “hoa trôi man mác” gợi nỗi buồn xót xa. Trong cái mênh mông vô định, cái cảnh “ nước chảy, hoa trôi lỡ làng” ấy gắn hợp với thân phận con người vướng vào cảnh sống đầy biến động, đầy bất công và bạc ác, chúng ta mới hiểu được tâm trạng của nàng Kiều trong lúc này. Vậy mới thấy, dù lời thơ rất giản dị nhưng hình ảnh ẩn dụ lại vo cùng sắc sảo về cuộc đời- cuộc đời người phụ nữ như người đời thường quan niệm “đời hoa”. Nhiều lần Kiều cũng tự ví mình “Hoa trôi, bèo dạt đã đành”. Biết duyên mình, biết phận mình thế thôi. Đau xót cho một đóa hoa lìa cội, lìa cành nổi trôi trên sóng nước dập vùi. Nhìn hoa trôi Kiều liên tưởng đến thân mình : Hoa lìa cành, hoa tàn. Kiều lìa cửa, lìa nhà, đời Kiều như ‘bèo dạt mây trôi’- một thân phận lênh đênh vô định. Qủa thật đời nàng cũng có khác chi một đóa phù dung sớm nở tối tàn. Bên cạnh đó, hai tiếng “về đâu” cuối câu thơ không tạo cảm giác xa vắng, vô định, như tương hợp với tâm thế hiện thời của Kiều. Câu hỏi tu từ đầy sắc thái vang lên như một nỗi lòng khắc khoải, chờ đợi, như xoáy sâu vào cả tâm hồn người đọc. Thực ra, đó chỉ là hình thức bày tỏ mà không đợi trả lời để thành đối thoại. Nó cứ thế buông ra để thành dòng độc thoại bộc bạch tâm tình..Qủa thật đó là nét đặc biệt lâu nay bị bỏ quên bởi sự lặng lẽ khiêm nhường chứ không bóng bẩy ồn ào. Nhưng nó vẫn đẹp trong quên lãng bởi qua câu hỏi tu từ ấy, ta nhận ra một lời cầu khẩn khi nó hé mở một thế sống về kẻ bị số phận bỏ rơi bên rìa cuộc đời này là chính nàng Kiều sẽ hoàn toàn lâm vào tuyệt vọng, vĩnh viễn đau thương

cách đây bởi Xuhoa13 Học sinh (37 điểm)
+1 thích

 

Vậy mới thấy, thân phận kia là cánh hoa hay chính là những trăn trở, xót xa cho số kiếp mỏng manh, phiêu bạt của Kiều? Tìm đến với thiên nhiên đó mong sao vơi bớt mối sầu chất chứa trong lòng nhưng càng nhìn cảnh, tâm trạng lại càng rối bời. Giờ đây, không gian không chỉ mênh mông rợn ngợp mà nó còn mạnh mẽ dữ dội, hình ảnh hoa lìa cội, lìa cành nổi trôi trên sóng nước bị dập vùi cũng chính là cuộc đời Kiều trôi nổi giữa dòng đời, Kiều bất lực và mặc thác cho số phận xô đẩy. Đau xót thay khi Kiều giờ đây như một con chim lạc bầy đang bay trong giông tố. Dường như nước gợi lên sự lạnh lẽo, bất định, chảy trôi nên Kiều tìm về với bờ cỏ xanh, với mặt đất:

” Buồn trông nội cỏ rầu rầu

Chân mây mặt đất một màu xanh xanh”

Vẫn âm điệu thơ buồn bởi vần bằng dàn trải, tạo cho ta cảm giác được cái nhìn mệt mỏi, chán chường của nhân vật trước cảnh vật mênh mông một màu buồn vô vọng. Đến nỗi, cỏ cũng mang tâm trạng buồn thương,đâu còn là “cỏ non” xanh tận chân trời trong tiết thanh minh khi Kiều còn sống những ngày tháng “Êm đềm trướng rủ màn che”. Cảnh nơi xứ lạ như thấu cảm nỗi niềm của Kiều nên nhuốm màu tâm tư của kiếp người phiêu bạt. Nỗi “rầu rầu” ấy tràn ngập, lan toả khắp không gian.

Tìm về với cỏ cây như ngày nào, nhưng giờ đây cỏ không còn là “cỏ non xanh tận chân trời” đầy sức sống mãnh liệt nữa, cỏ bây giờ chỉ là những ngọn cỏ héo úa, tàn lụi như chính số phận bị định mệnh hất hủi của Kiều. Cảnh nơi xứ lạ như thấu cảm nỗi niềm của Kiều nên nhuốm màu tâm tư của kiếp người phiêu bạt. Nỗi “rầu rầu” ấy tràn ngập, lan toả khắp không gian:

“Chân mây mặt đất một màu xanh xanh”

Cái nhìn bao quát từ “chân mây” xa xăm đến “mặt đất” gần gũi, tất cả đều “một màu xanh xanh”. Nó khác lắm với cái sắc xanh tràn ngập nhựa sống của khí trời mùa xuân trong tiết Thanh minh vui vẻ, rộn rã. Màu ”xanh xanh” đó lại nhàn nhạt trải dài từ mặt đất tới chân mây; nó không phải màu xanh của sự sống, của hy vọng mà chỉ gợi nỗi chán ngán vô vọng vì cuộc sống vô vị, cô quạnh, đơn độc này không biết bao giờ mới kết thúc. Đã thế, màu xanh ấy lại làm cho cả cỏ cây không còn tươi tắn, cảnh vật thêm phần ảm đạm, gợi sự liên tưởng như màu cỏ trên mộ Đảm Tiên:

”Sè sè nắm đất bên đường

Rầu rầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh”

Nỗi buồn của người pha vào cảnh vật, mang theo bao tái tê. Không gian trở nên rợn ngợp, cô liêu. Sự vắng lặng bao trùm cảnh vật càng tô đậm tiếng lòng thổn thức của người trong cảnh. Kiều cảm thấy cần một tiếng vọng của sự sống con người nhưng đáp lại nàng chỉ có những thanh âm hào hùng của thiên nhiên:

“Buồn trông gió cuốn mặt duềnh.

Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.”

Gió thổi, nước trôi... tất cả đều gợi sự chảy trôi, như thân phận “Bên trời góc bể bơ vơ” của nàng Kiều. Âm thanh của tiếng sóng ầm ầm như tiếng gào thét của lòng người trong cảnh ngộ bẽ bàng, tê tái. Tầm nhìn của Kiều hướng từ xa về gần, từ cao đến thấp, mong mỏi kiếm tìm một đáp vọng. Thanh âm duy nhất đáp lại nàng là tiếng sóng đặc tả qua từ tượng thanh "ầm ầm” “kêu quanh ghế ngồi”. Nó như một khúc ca đầy dư âm với hòa tấu phức điều của sóng biển, "sóng lòng", "sóng đời" đang vang lên những tiếng gầm gào của hiểm họa như muốn hất tung, nhấn chìm người con gái cô đơn, tội nghiệp trên điểm tựa chiếc ghế đời mỏng manh. Nó không làm cho không gian vang động hơn mà càng khắc sâu thêm tâm trạng đau đớn lẫn dự cảm lo âu về tương lai của Kiều. Xót xa biết bao, đớn đau biết bao! Chỉ có thiên nhiên bên nàng, sẻ chia “tấm lòng’' với nàng. Đó chính là thời khắc Kiều thấm thía nhất nỗi niềm tự thương thân. Kiều chơi vơi như rơi vào vực thẳm một cách bất lực, và cũng chính lúc này, Kiều trở nên tuyệt vọng yếu đuối nhất khi nàng dự cảm những giông bão của số phận, rồi đây sẽ nổi lên và nhấn chìm cuộc đời mình.

Có thể nói, thiên nhiên chân thực, sinh động nhưng cũng vô cùng hư ảo. Cảnh vật chỉ mang tính ước lệ nhưng phản ánh rõ tình người, cụ thể là nỗi buồn không giới hạn của Kiều. Đó là thiên nhiên được nhìn qua tâm trạng nhưng toàn là hình ảnh về sự vô định, sự dạt trôi, bế tắc, chênh vênh dữ dội. Mỗi cảnh ngụ một ý, tăng dần lên theo suy nghĩ và mặc cảm về thân phận con người: lẻ loi, cô độc, trôi nổi, héo tàn và linh tính báo trước về một tương lai đen tối đầy bão tố. Bốn câu thơ lục bát được liên kết bởi điệp ngữ “buồn trông” nghĩa là buồn mà nhìn xa, mà trông ngóng một cái gì mơ hồ sẽ đến làm thay đổi hiện tại, nhưng trông mà vô vọng. "Buồn trông" có cái thảng thốt lo âu, có cái xa lạ cuốn hút tầm nhìn, có cả sự dự cảm hãi hùng của người con gái lần đầu lạc bước giữa cuộc đời ngang ngửa. Trải dọc bài thơ là các điệp ngữ kết hợp với những hình ảnh ẩn dụ đứng sau, câu hỏi tu từ cùng các từ láy “thấp thoáng”,”xa xa”,”rầu rầu”,”ầm ầm” đã diễn tả nỗi buồn nhiều bề trong Kiều với nhiều sắc độ khác nhau, trào dâng lớp lớp như những con sóng lòng. Tất cả tạo nên âm hưởng trầm buồn, trở thành điệp khúc đoạn thơ, cũng là điệp khúc của tâm trạng.

Gấp lại những trang thơ của Nguyễn Du, tám câu thơ cuối đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” đã tạo thành bức tranh tứ bình của tâm trạng, có cấu trúc cân đối hài hòa đã khiến cho bút pháp tả cảnh ngụ tình ấy bao giờ cũng tự nhiên, thấu tình đạt lý, sinh động như cuộc sống muôn màu nhưng lại thực hơn cả hiện thực. Phải nói, Nguyễn Du đã thâm nhập vào thâm cung nội tâm của nhân vật, miêu tả nàng Kiều với tất cả những trạng thái tình cảm phong phú, phức tạp như là một con người có thật ở ngoài đời. Đặc biệt hơn cả, đằng sau sự thành công của bút pháp tả cảnh ngụ tình ấy là một trái tim yêu thương vô hạn với con người, là sự đồng cảm, sẻ chia xót thương cho một kiếp hồng nhan bạc mệnh và ngầm tố cáo xã hội bất công đã chà đạp lên quyền sống và nhân phẩm con người. Đồng thời với hình ảnh ẩn dụ đa âm sắc, cảnh được miêu tả từ xa đến gần, màu sắc từ nhạt đến đậm, âm thanh từ tĩnh đến động và tâm trạng từ tuyệt vọng cô đơn đến lo lắng, hoang mang cùng loạt câu hỏi tu từ trải dài suốt bài thơ đã gợi "cái tình" trong thơ. Từ đó, Nguyễn Du đã thể hiện được tính truyền thống về đề tài nhưng cách tân, hiện đại trong câu chữ qua cách đặc tả tâm trạng của nhân vật trữ tình trước thiên nhiên, trước khát vọng sống mãnh liệt đầy uẩn khúc

Tiếp cận với thế giới nghệ thuật trong “Truyện Kiều” là cảm nhận được tính hàm súc, mới lạ của mạch thơ đứt nối không theo tính liên tục của thời gian và duy nhất của không gian nhưng lại diễn tả mạch vận động nhất quán của dòng tâm tư. Ta thấy rằng tám câu thơ không chỉ khắc họa thành công nỗi đau lòng xót xa, tâm trạng bẽ bàng của Kiều, mà còn cho ta thấy nghệ thuật tả cảnh ngụ tình bậc thầy của Đại thi hào dân tộc Nguyễn Du. Âm hưởng của những câu thơ này đã, đang và sẽ gieo mãi vào sâu trong lòng người đọc nỗi cảm thương sâu sắc đối với nàng Kiều – người phụ nữ tuyệt sắc giai nhân nhưng cuộc đời thật lắm truân chuyên, trắc trở và “Truyện Kiều” mãi một thi phẩm giành được chỗ đứng trang trọng trong kí ức của người đọc nhiều thế hệ bởi vẻ đẹp tư tưởng của nó

 

cách đây bởi Xuhoa13 Học sinh (37 điểm)

 

 

Chào mừng bạn đến với Lớp 6/7 Hỏi Đáp - Đặt câu hỏi và nhận câu trả lời về mọi vấn đề trong cuộc sống, nơi bạn có thể đặt câu hỏi và nhận câu trả lời mà tốn chưa đến 1 phút!

Bắt đầu đặt câu hỏi tại đây: Đặt câu hỏi

Bạn cũng có thể tạo tài khoản để thi đua cùng bạn bè: Đăng ký

Bảng xếp hạng điểm học tập: Bảng xếp hạng

Quy định chung trên Lớp 6/7 Hỏi Đáp: Quy định

Phần thưởng hằng tháng: Chi tiết

Lưu ý: Bạn PHẢI đọc quy định trước khi tham gia, tuyệt đối không đăng câu hỏi/trả lời linh tinh không liên quan đến học tập; Spam; Gian luận điểm dưới mọi hình thức;...

46,331 câu hỏi
184,817 câu trả lời
58,694 bình luận
8,928 thành viên